5. Cách phòng ngừa và điều trị bệnh thủy đậu. 5.1. Cách chữa thủy đậu. Bệnh thủy đậu hiện nay chưa có thuốc đặc trị, chỉ có các loại thuốc và phương pháp hỗ trợ điều trị. Là bệnh lành tính do vậy có thể tự điều trị tại nhà theo chỉ định của bác sĩ. PbqVUof. Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa II Lê Thanh Cẩm - Khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Bệnh thủy đậu là bệnh lành tính, không có triệu chứng nặng nề ngoài những mụn nước nhưng rất dễ gây nhiễm trùng da nơi mọc mụn nước, có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết, viêm não.... Phụ nữ mang thai mắc bệnh Thủy đậu sẽ rất nguy hiểm cho thai nhi, có thể gây sảy thai hoặc để lại dị tật thai nhi. Hãy cùng tìm hiểu nguyên nhân và triệu chứng của bệnh trong bài viết dưới đây để có cách chữa trị và phòng bệnh đúng cách. 1. Bệnh thủy đậu là gì? Bệnh thủy đậu hay còn gọi là trái rạ là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus thủy đậu có tên Varicella virus gây ra. Loại virus này là tác nhân gây ra bệnh thủy đậu ở trẻ em và bệnh zona ở người là bệnh có khả năng lây lan nhanh chóng, có thể xảy ra ở cả trẻ em phổ biến hơn và người lớn. Mùa xuân thời tiết ẩm nồm là thời điểm bệnh thủy đậu bùng phát mạnh nhất. Biểu hiện rõ rệt của thủy đậu là những mụn nước phồng rộp trên khắp cơ thể, ngay cả trong niêm mạc lưỡi và có nhiều con đường lây nhiễm, có nhiều biến chứng nguy hiểm. Do vậy cần có kiến thức cơ bản về bệnh này để có phương pháp phòng ngừa và điều trị kịp thời. 2. Thủy đậu có lây không? Thủy đậu là bệnh truyền nhiễm và lây truyền từ người sang người bằng cách tiếp xúc trực tiếp, lây lan qua không khí từ các giọt nước bọt nhỏ li ti được tiết ra từ đường hô hấp ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc lây từ các chất dịch ở nốt ra, thủy đậu còn lây truyền gián tiếp qua những đồ vật bị nhiễm chất dịch của nốt phỏng. Như việc sử dụng chung đồ dùng cá nhân bàn chải đánh răng, khăn mặt, ăn uống chung với người đang bị thủy đậu. 3. Triệu chứng của thủy đậu qua từng giai đoạn Hình ảnh nốt mụn nước thủy đậu qua từng ngày Bệnh thủy đậu có 4 giai đoạn phát triển, mỗi giai đoạn có dấu hiệu khác nhau. Cụ thể Giai đoạn ủ bệnhĐây là giai đoạn nhiễm virus, thời kỳ virus trong người và phát bệnh. Giai đoạn này kéo dài từ 10 - 20 ngày. Người mắc bệnh lúc này không có bất kỳ dấu hiệu gì, rất khó để nhận Giai đoạn khởi phát phát bệnhThời điểm phát bệnh với những triệu chứng như sốt nhẹ, nhức đầu, cơ thể mệt mỏi. Bắt đầu xuất hiện phát ban đỏ với đường kính vài milimet trong 24 - 48 giờ đầu. Một số bệnh nhân còn có hạch sau tai, kèm viêm họng. Giai đoạn toàn phátBệnh nhân bắt đầu sốt cao, chán ăn, buồn nôn, mệt mỏi, đau đầu và đau cơ. Các nốt ban đỏ bắt đầu có những nốt phỏng nước hình tròn, đường kính từ 1 - 3 mm. Các mụn nước gây ngứa và rát, rất khó nốt mụn nước này xuất hiện toàn thân, mọc kín trên cơ thể bệnh nhân. Mọc cả vào niêm mạc miệng gây khó khăn trong việc ăn uống. Một số trường hợp bị nhiễm trùng mụn nước sẽ có kích thước lớn hơn, dịch bên trong mụn nước màu đục do chứa Giai đoạn hồi phụcSau từ 7 - 10 ngày phát bệnh, các mụn nước sẽ tự vỡ ra, khô lại và bong vảy dần hồi phục trở lại. Trong giai đoạn này cần vệ sinh các vết thủy đậu cẩn thận, tránh để nhiễm trùng. Kết hợp sử dụng các loại thuốc trị sẹo, thuốc trị thâm. Bởi thủy đậu sẽ để lại sẹo rỗ lõm sau khi chúng biến mất. Thủy đậu là bệnh lành tính, chúng vốn sẽ khỏi sau 1 thời gian phát bệnh. Tuy nhiên, bệnh nào cũng sẽ có những biến chứng nguy hiểm nếu không có biện pháp chữa trị đúng cách. Các biến chứng của thủy đậu gồmNhiễm trùng, gây lở loét các vết mụn nước sau khi vỡ, gây chảy máu bên trong. Đây là biến chứng thường gặp ở trẻ nhỏ do không kiêng giữ được như dùng tay để gãi viêm não, viêm màng não xuất hiện sau 1 tuần mọc mụn nước là biến chứng có thể xảy ra ở cả trẻ nhỏ và người lớn, tuy nhiên người lớn dễ gặp phải biến chứng này hơn. Các triệu chứng đi kèm gồm sốt cao, hôn mê, co giật, rối loạn tri giác, rung giật nhãn cầu. Biến chứng này có thể gây tử vong nếu không chữa trị kịp phổi thủy đậu biến chứng này thường xảy ra ở người trưởng thành, vào ngày thứ 3 - 5 sau khi phát bệnh. Biểu hiện như ho nhiều, ho ra máu, khó thở và tức viêm thận, viêm cầu thận cấp các triệu chứng của biến chứng này là tiểu ra máu và suy thận. Mẹ bầu khi mang thai mà mắc bệnh thủy đậu cần khám chữa kịp thời Phụ nữ mang thai bị bị thủy đậu, mẹ bầu nếu bị thủy đậu 5 ngày trước khi sinh hoặc 2 ngày sau khi sinh có thể lây nhiễm thủy đậu từ mẹ sang con, bé có thể bị khuyết tật hoặc tử viêm tai giữa, viêm thanh quản do các nốt mụn thủy đậu mọc ở khu vực này gây lở loét, nhiễm trùng gây sưng tấy. 5. Cách phòng ngừa và điều trị bệnh thủy đậu Cách chữa thủy đậuBệnh thủy đậu hiện nay chưa có thuốc đặc trị, chỉ có các loại thuốc và phương pháp hỗ trợ điều trị. Là bệnh lành tính do vậy có thể tự điều trị tại nhà theo chỉ định của bác sĩ. Các trường hợp bị biến chứng cần điều trị nội trú tại bệnh viện theo đúng liệu trình của bác sĩ. Để bệnh nhanh thuyên giảm và an toàn khi điều trị, cần lưu ýKhi điều trị tại nhàMặc đồ rộng, vải mềm và dễ thấm hút mồ hôi để tránh làm vỡ các nốt mụn nước, cần tránh ra gió gãi vào các nốt mụn nước thủy đậu, tránh để dịch lây lan ra nhiều gìn vệ sinh cơ thể bằng các dung dịch sát khuẩn, sử dụng nước ấm để tắm rửa nhẹ nhàng, không dùng nước lạnh hoặc nước quá có dấu hiệu của những biến chứng do thủy đậu gây ra, cần đưa người bệnh đến ngay bệnh viện uy tín để khám chữa kịp chủ động cách ly tránh gây lây truyền bệnh sang cho người dùng thuốc điều trịVới các nốt mụn nước trên cơ thể, bạn có thể dùng thuốc tím để bôi lên nốt mụn nước nhằm kháng viêm và ngăn ngừa sẹo hình mụn nước bị vỡ ra, có thể sử dụng dung dịch xanh Methylen bôi lên. Tuyệt đối không được dùng thuốc bôi mỡ Tetaxilin và mỡ Penixilin hay thuốc đối không dùng kem trị ngứa có chứa Phenol ở trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi và phụ nữ mang thai. Bệnh thủy đậu thường gặp ở trẻ em Cách phòng ngừa thủy đậuTiêm chủng ngừa vắc xin thủy đậu là biện pháp phòng tránh thủy đậu hiệu quả và lâu dài nhất. Với trẻ em việc tiêm ngừa vắc xin thủy đậu càng quan trọng. Nếu gia đình có trẻ nhỏ hãy đưa trẻ tới cơ sở y tế uy tín để tiêm theo đúng liều lượng quy định. Lịch tiêm gồmMũi 1 Tiêm khi trẻ trên 1 2 Trẻ từ 1 - 13 tuổi tiêm cách mũi 1 tối thiểu 3 tháng. Trẻ 13 tuổi trở lên Tiêm cách mũi 1 ít nhất 1 tiếp xúc với người đang mắc bệnh thủy đậu mà bản thân chưa tiêm ngừa vắc xin thủy đậu, cần tiêm chủng ngừa trong 3 ngày sau đó. Không sử dụng đồ dùng cá nhân với người nhiễm bệnh, không chạm vào các mụn nước thủy đậu. Người bệnh cần được cách ly với người thân cũng như cộng đồng, tránh để lây nhiễm rộng viện Đa khoa Quốc tế Vinmec cung cấp dịch vụ tiêm phòng vắc-xin thủy đậu. Nếu có nhu cầu tiêm các mũi vắc-xin lẻ, Quý khách vui lòng liên hệ các Bệnh viện hoặc Phòng khám của Vinmec trên toàn quốc. Tầm quan trọng của tiêm vắc-xin đúng lịch Theo khuyến cáo của các chuyên gia y tế, ngay cả trong thời điểm có dịch bệnh, phụ huynh vẫn nên đưa con đi tiêm vắc xin đúng lịch. Việc trì hoãn lịch tiêm có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh đã được loại trừ hoặc khiến các bệnh truyền nhiễm, bội nhiễm như cúm, sởi, thủy đậu, viêm họng, viêm phổi...trở nên nặng hơn và khó điều trị tình hình dịch bệnh hiện nay, việc tiêm vaccine đúng thời điểm và đúng lịch là rất quan trọng và cần thiết để kịp thời phòng được bệnh đã tiêm và để không nhầm lẫn với bệnh khác, không gây lo lắng cho gia đình và cộng đồng. Nếu trong thời điểm này trẻ bị ho hay sốt các phụ huynh sẽ rất hoảng sợ không biết triệu chứng này do Covid-19 hay do bệnh khác vì một số triệu chứng của nhiễm Covid-19 giống như cúm hoặc các bệnh về đường hô hấp khácTrong vòng 5 năm đầu đời trẻ mới xây dựng được hệ miễn dịch hoàn thiện vì vậy tiêm chủng đầy đủ là một cách tăng cường sức đề kháng hiệu quả với trẻ. Cha mẹ cần lưu ý khi đưa trẻ đi tiêm phòng tuân thủ đúng những khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới WHO và Bộ y tế như đeo khẩu trang đúng cách, rửa tay thường xuyên bằng dung dịch sát khuẩn. Ngoài ra các phụ huynh luôn cập nhật thông tin đúng đủ về chủng Covid -19 này để bảo vệ bản thân và gia đình khỏi Virus khu vực không có dịch các mẹ vẫn có thể cho bé đi tiêm phòng theo lịch tiêm chủng phù hợp với lứa tuổi, nhưng tránh những nơi tụ tập đông người, nên đặt lịch hẹn trước tránh không phải chờ đợi và đến cơ sở y tế tin tưởng cơ sở vật chất đảm lắng về biến chứng của thủy đậu? Mong muốn nhận được sự hỗ trợ từ chuyên gia trong quá trình hồi phục để không gặp phải những biến chứng ảnh hưởng lâu dài về sau? Chưa biết các vệ sinh để tránh nhiễm trùng? Hãy để đội ngũ chuyên gia của Vinmec đồng hành cùng bạn, ĐĂNG KÝ NHẬN TƯ VẤN NGAY VỀ VẤN ĐỀ THỦY ĐẬU!>> Xem thêm Có nên trì hoãn việc tiêm chủng trong đợt dịch Covid-19? được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa II Quách Nguyễn Thu Thủy - Trung tâm Nhi - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Bài viết tổng hợp từ nguồn Bộ Y tế XEM THÊM Bị bệnh thủy đậu khoảng bao lâu thì khỏi? Điều trị bệnh thủy đậu như nào? Bị mọc mụn thủy đậu vùng kín có nên tự bôi thuốc không? 10/02/2017 Tại bệnh viện Nhi Trung ương, trong tuần qua, có hơn 10 bệnh nhi nhập viện vì mắc thủy đậu. Có những ngày Khoa Truyền nhiễm đón 3-4 bệnh nhân. Đáng chú ý, có những bệnh nhi sơ sinh mới vài tuần tuổi bị lây thủy đậu từ mẹ. Tuy đây là một bệnh lành tính nhưng cần được phát hiện sớm và chăm sóc chu đáo, nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm não và màng não. Do vậy, cần căn cứ vào các triệu chứng của bệnh để phát hiện và điều trị kịp thời. Nguyên nhân gây bệnh Bệnh thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm, do virus Varicella Zoster gây ra và thường bùng phát thành dịch vào mùa xuân. Virus gây bệnh thủy đậu lây chủ yếu qua đường hô hấp hoặc không khí, người lành dễ bị nhiễm bệnh nếu hít phải những giọt nước bọt bắn ra khi bệnh nhân thủy đậu ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi. Ngoài ra, khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu, bệnh có thể lây từ bóng nước khi bị vỡ ra, lây từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ người mắc bệnh. Đặc biệt, phụ nữ mang thai không may bị nhiễm bệnh sẽ rất dễ lây cho thai nhi thông qua nhau thai. Các nốt bóng nước ở bệnh thủy đậu Triệu chứng bệnh thủy đậu Khi khởi phát, người bệnh có thể có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, một số trường hợp nhất là trẻ em có thể không có triệu chứng báo trước. Khi bị thủy đậu, cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những “nốt rạ”. Đây là những nốt tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12 – 24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển thành những mụn nước, bóng nước. Nốt rạ có thể mọc khắp toàn thân hay mọc rải rác trên cơ thể, số lượng trung bình khoảng 100 – 500 nốt. Trong trường hợp bình thường những mụn nước này khô đi, trở thành vảy và tự khỏi hoàn toàn trong 4 – 5 ngày. Ở trẻ em, thủy đậu thường kéo dài khoảng 5 – 10 ngày dẫn đến việc phải nghỉ học hoặc nghỉ đến nơi giữ trẻ. Biến chứng của bệnh thủy đậu Thông thường, thủy đậu là bệnh lành tính. Nhưng bệnh cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm như viêm màng não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ, viêm mô tế bào, viêm gan… Một số trường hợp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời. Viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy ra hơn, nhưng rất nặng và rất khó trị. Viêm não do thủy đậu cũng xảy ra, không hiếm sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, kích thích, nhiều khi kèm theo co giật, hôn mê. Những trường hợp này có thể mang di chứng thần kinh lâu dài bị điếc, chậm phát triển, động kinh Người mẹ mắc bệnh thủy đậu khi đang mang thai có thể sinh con bị dị tật bẩm sinh sau này. Chăm sóc người bệnh bị thủy đậu Vì là bệnh lây qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp với dịch nốt phỏng nên khi trẻ bị thủy đậu, việc đầu tiên là các bậc cha mẹ nên cách ly trẻ tại nhà cho tới khi khỏi hẳn. Bổ sung thêm vitamin C, nhỏ mũi 2 lần/ngày cho trẻ. Mặc quần áo vải mềm, thấm hút mồ hôi và đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng. Giữ bàn tay cho trẻ thật sạch. Khi cần tiếp xúc người bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh. Lưu ý Tránh làm vỡ các nốt thuỷ đậu vì dễ gây bội nhiễm và có thể tạo thành sẹo tồn tại lâu dài. Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh phát ban cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn. Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng khăn mặt, cốc, chén, bát, đũa. Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9%. Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm sạch. Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng. Đối với trẻ em – Nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước. – Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả. – Dùng dung dịch xanh Milian xanh Methylene để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ. – Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh. Nếu bệnh nhân cảm thấy Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị. Trẻ em và người lớn nên chủng ngừa bệnh thủy đậu càng sớm càng tốt. Phòng bệnh thủy đậu Mặc dù bệnh có thể lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, nhưng hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh thủy đậu, đó là chủng ngừa bằng vắc-xin. Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi, tiêm 1 liều và liều thứ 2 nên tiêm thêm cách liều thứ nhất 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4 – 6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù trước đó đã tiêm phòng. Đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn, tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần. Nguyễn Văn Lâm – Trưởng khoa Truyền nhiễm Thủy đậu là gì? Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm, tác nhân gây bệnh là virus Varicella Zoster. Thủy đậu tuy là một bệnh lành tính nhưng nếu không được điều trị đúng cách sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm màng não, thậm chí là tử vong. Bệnh thủy đậu có thể bùng phát thành dịch, thường gặp vào mùa xuân. Thủy đậu là bệnh do virus Varicella Zoster gây ra. Virus Varicella Zoster gây bệnh thủy đậu chủ yếu lây truyền qua đường hô hấp, qua các hạt nước nhỏ bắn ra khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc chảy mũi. Ngoài ra bệnh còn lây truyền khi tiếp xúc với các bọng nước bị vỡ, hoặc từ các vùng da bị tổn thương của người bệnh. Đặc biệt hơn, phụ nữ mang thai mắc bệnh thủy đậu có thể lây cho thai nhi qua nhau thai, gây nên tình trạng mắc thủy đậu bẩm sinh. Thủy đậu có các biểu hiện đa dạng theo từng giai đoạn của bệnh. Ở giai đoạn khởi phát, bệnh nhân thường biểu hiện các triệu chứng toàn thân như sốt, đau đầu, đau nhức cơ. Bệnh thủy đậu ở trẻ em thường không có triệu chứng báo trước. Ở giai đoạn toàn phát của bệnh, người bệnh thường nhận thấy sự xuất hiện của các “nốt rạ”. Lúc đầu là những nốt đỏ tròn nhỏ mọc nhanh khắp cơ thể hoặc mọc rải rác trong vòng 12 đến 24 giờ. Sau đó các nốt này tiến triển thành những mụn nước, bọng nước, rồi khô đi, bong vảy và tự khỏi hoàn toàn sau 4 đến 5 ngày. Bên cạnh các triệu chứng đặc trưng của bệnh, bệnh nhân còn có thể đối mặt với biểu hiện của các biến chứng của bệnh như Viêm phổi do thủy đậu là một biến chứng rất nặng và khó điều trị khỏi. Viêm não do thủy đậu với các biểu hiện vật vã, kích thích, co giật, hôn mê. Di chứng sau đó có thể kèm theo như điếc, động kinh, chậm phát triển tinh thần vận động,… Trẻ sơ sinh được sinh ra từ mẹ mắc thủy đậu khi mang thai có thể mắc phải các dị tật bẩm sinh. Không phải chỉ gặp ở trẻ em, bệnh thủy đậu còn gặp ở người lớn với các biểu hiện đôi khi còn nặng nề hơn. Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm, dễ lây lan bằng nhiều cách Lây theo đường hô hấp bằng các giọt nước nhỏ trong không khí bắn ra từ đường hô hấp như mũi, miệng của người bệnh. Lây thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với đồ vật như quần áo, chăn gối có vấy bẩn các chất tiết của người bệnh. Lây qua tiếp xúc trực tiếp với chất dịch khi các bọng nước bị vỡ. Lây từ mẹ sang con khi mẹ mắc thủy đậu trong khi mang thai Thời gian lây bệnh của thủy đậu kéo dài từ trước khi nổi ban đỏ 1-2 ngày cho đến khi các bọng nước đóng vảy hoàn toàn. Xem thêm Bệnh thủy đậu lây qua những đường nào? Bệnh có thể lây lan nhanh chóng và trở thành dịch nên việc phòng ngừa thủy đậu là rất quan trọng. Hiện tại, cách phòng ngừa bệnh thủy đậu một cách chủ động và có hiệu quả nhất là chủng ngừa thủy đậu bằng vắc-xin. Chủng ngừa 2 liều với trẻ trên 12 tháng tuổi đến 12 tuổi., liều thứ hai cách liều thứ nhất ít nhất 6 tuần. Nên tiêm chủng liều thứ 2 cho trẻ trong độ tuổi từ 4 đến 6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh. Đối với các trẻ lớn hơn và người lớn, nên tiêm đủ 2 liều cách nhau ít nhất 6 tuần là tốt nhất. Các biện pháp phòng ngừa khác cần lưu ý khi chăm sóc người bệnh để tránh lây lan như sau Cách ly trẻ mắc bệnh tại nhà cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn để tránh lây lan cho các trẻ khác. Người chăm sóc khi tiếp xúc với người bệnh cần mang khẩu trang, rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với người bệnh. Người bệnh cần được sử dụng các vật dụng cá nhân riêng như khăn mặt, chén, dĩa, cốc, … Phụ nữ mang thai tuyệt đối không tiếp xúc với người mang bệnh thủy đậu. Việc chẩn đoán bệnh thủy đậu chủ yếu được thực hiện dựa trên các triệu chứng lâm sàng đặc trưng như các nốt bọng nước, đóng vảy. Việc chẩn đoán xác định có thể được thực hiện bằng cách lấy mẫu trên các tổn thương da của người bệnh để làm xét nghiệm. Không có biện pháp điều trị đặc hiệu cho bệnh thủy đậu. Việc điều trị bệnh thường tập trung vào việc làm giảm nhẹ các triệu chứng và giữ bệnh nhân không bị mất nước. Vì vậy việc chăm sóc người bệnh thủy đậu đóng một vai trò quan trọng, cần đảm bảo Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn các thức ăn mềm, uống đủ nước, có thể uống thêm nước hoa quả Vệ sinh mũi họng hằng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý Thay quần áo và tắm rửa hằng ngày bằng nước ấm sạch. Tránh gãi làm vỡ các nốt phỏng vì dễ gây bội nhiễm và tạo sẹo, gây mất thẩm mỹ, nếu đã vỡ dùng dung dịch xanh methylen bôi lên. Mặc quần áo mềm, rộng rãi, thoáng mát Sử dụng các thuốc hạ sốt theo đúng hướng dẫn nếu sốt cao Có thể sử dụng kháng sinh nếu có biểu hiện nhiễm trùng ở các nốt phỏng hoặc biến chứng như viêm phổi, viêm não màng não. Xem thêm Bị bệnh thủy đậu khoảng bao lâu thì khỏi? Bệnh thủy đậu lây qua những đường nào? Những điều cần biết về vắc xin thủy đậu Hướng dẫn chăm sóc trẻ bị thủy đậu tại nhà HÀNH CHÁNHHọ và tên BN Hồ T. Tuổi 30 Giới tính NamNghề nghiệp Thợ hồĐịa chỉ Q. Cái Răng, ThơKhoa Nhiễm – Bệnh viện đa khoa TW Cần ThơLÝ DO NHẬP VIỆN Nổi mụn nước toàn thânBỆNH SỬBN nhập viện ngày thứ 4 của Buổi chiều, BN độ ngột cảm thấy nóng ngườikhông cặp nhiệt, mệt, không đau nhức cơ, không vã mồ hôi không uống thuốc, không ho, không sốt không buồn nôn, đại tiện, tiểu tiện chưa ghi nhận bất BN còn sốt nhẹ với tính chất tương tự. xuất hiện thêm 1 vài chấm đỏ rải rác trên ngực và bụng, không đau không ngứa, đường kính 1- 3 mmN3 – N4 Bệnh nhân hết sốt, trên nền chấm đỏ xuất hiện mụn nước trong, không đau, không ngứa, sau lan lên vai và lưng rồi lan ra toàn thân , một vài mụn nước chuyển từ trong sang đục bệnh nhân lo lắng nên đi khám tại bệnh viện đa khoa TW Cần Thơ và được cho nhập việnTình trạng lúc nhập việnBệnh tỉnh, tiếp xúc tốtNổi nhiều mụn nước trong và đục toàn thân, chưa vỡSinh hiệuMạch 80l/p Nhiệt độ 37oC Huyết áp 110/70 mmHgNhịp thở 20l/p SpO2 95%Diễn tiến bệnh phòng N5 của bệnhBệnh tỉnh, tiếp xúc tốtSốt 39oCMụn nước đục và trong rải rác toàn thânTIỀN CĂNBản thânNội khoa Chưa ghi nhận bệnh lý liên quanNgoại khoa Chưa ghi nhận bệnh lý liên quanThói quen Hút thuốc lá khôngRượu bia thỉnh thoảngDị ứng Chưa ghi nhậnGia đình Chưa ghi nhận các bệnh lý liên quanDịch tễ họcChưa chích ngừa thuỷ đậu và chưa từng bị thuỷ đậuKhu vực sống xung quanh không ai mắc triệu chứng tương tựLƯỢT QUA CÁC CƠ QUAN Khám N5 của bệnhTổng trạng Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốtDa Sang thương mụn nước trong và đục, không đau, không ngứaTiêu hoá không đau bụngTai – Mũi – Họng Không ù tai, không chảy dịch, không nghẹt mũi, không đau họng hay khàn tiếngTim mạch không đau ngực, không đánh trống ngựcHô hấp không hoTiết niệu tiểu gắt buốt, nước tiểu vàng trongThần kinh không đau đầuCơ xương khớp không yếu liệt, đau nhức khớpKHÁM LÂM SÀNG Khám N5 của bệnhKhám toàn trạngMạch 80 l/p Huyết áp 120/70 mmHg Nhiệt độ 39 oCNhịp thở 20 l/p SpO2 96% khí phòngBMI 22 Chiều cao 1m65, Cân nặng 60kg—> Tổng trạng trung bìnhBệnh tỉnh, tiếp xúc tốtDa sang thương nhiều lứa tuổi tập trung ở mặt, ngực, bụng gồm sẩn hồng ban khoảng 2mm, mụn nước trong và đục, đa số là mụn nước đục, hình tròn, khoảng 2mm, trên viền hồng ban 3mm, chắc. Tay và chân ít sang thương hơn, chủ yếu là mụn nước trong, khoảng 2 mmTuyến giáp không toHạch ngoại vi sờ không chạmKhám tuần hoàn*Khám timLồng ngực cân đối, không sẹo mổ cũMỏm tim ở khoang liên sườn 5 đường trung đòn tráiPhản hồi gan tỉnh mạch – cổ -Không rung miu, dấu Harze -T1, T2 đều rõ, 82 l/p, không âm thổi, không T3, T4*Khám mạch máuMạch quay cánh tay đều, rõ tần số 82 lần/phútMạch mu chân T yếu, khó bắt hơn PKhám hô hấpLồng ngực di động đều theo nhịp thở, các khoảng gian sườn không giãn rộng, không co kéo cơ hô hấp phụRung thanh đều 2 bênGõ trongKhông raleKhám tiêu hoáBụng cân đối, di động đều theo nhịp thở, không tuần hoàn bang hệ, không dấu sao mạchNhu động ruột 6 l/pGõ trongBụng mềm, ấn không đauGan – lách sờ không chạmKhám thận – tiết niệu – sinh dụcẤn điểm niệu quản không đauChạm thận -Bập bềnh thận -Khám thần kinhBệnh tỉnh, trả lời chính xác bản thân, không gian, thời gianKhông mất chức năng ngôn ngữKhông có dấu thần kinh khu trúKhám dấu màng não Cổ mềm, Brudzinski -, Kernig -Khám cơ – xương – khớpTay chân 2 bên đều nhau, không phùKhông biến dạng khớpCác khớp không sưng, nóng, đỏ, đauKhám các cơ quan khác Sơ bộ chưa ghi nhận bất thườngTÓM TẮT BỆNH ÁNBN nữ, 30 tuổi, nhập viện vì nổi mụn nước toàn thân. Qua hỏi bệnh, tiền sử và khám lâm sàng ghi nhậnSốt 39oCMun nước trong và đục toàn thânTiểu gắt buốtDịch tễ Chưa chích ngừa thuỷ đậu và chưa từng bị thuỷ đậuCHẨN ĐOÁNChẩn đoán sơ bộ Thuỷ đậu N5 bội nhiễm da/ Nhiễm trùng tiểuChẩn đoán phân biệtZona do Herpes virus/ Nhiễm trùng tiểuBIỆN LUẬN CHẨN ĐOÁNBN sốt kèm xuất hiện sang thương mụn nước toàn thân nên nghĩ đến các nhóm bệnh thuỷ đậu, bệnh Zona do điểm sang thương trên BN này là rải rác khắp bụng, lưng, ngực chứ không có xu hướng mọc thành từng chùm, từng nhóm. Tiền triệu BN cũng không có cảm giác ngứa, rát ở vùng da sẽ nổi mụn nước mà BN có cảm giác ngứa sau khi các mụn nước đã hình thành. Tiền căn ở BN này chưa được ghi nhận có đợt nổi mụn nước tương tự như lần này nên không nghĩ BN đã từng bị Herpes. Đặc điểm sang thương , tiền triệu và tiền sử không hướng đến chẩn đoán nhiễm Herpes nên ta loại trừ nguyên nhân do Herpes virus bệnh nhân này ta có giai đoạn khởi đầu sốt nhẹ, mệt mỏi, ngực xuất hiên những hồng ban rải rác đường kính 2mm, sau đó xuất hiện những mụn nước từ trên nền hồng ban lan dần theo hướng li tâm lên vai, lưng và lan ra toàn thân, mụn nước chuyển từ trong sang đục sau 2 ngày đồng thời mụn nước nhiều lứa tuổi rải rác khắp cơ thể nên ta nghĩ nhiều nhiều tới thủy đậu, tuy bệnh nhân chưa ghi nhận tiếp xúc với người bệnh thủy đậu trong thời gian gần đây nhưng không thể loại trừ vì lâm sàng phù hợp và tiền căn chưa chích ngừa thủy bệnh nhân không đau không ngứa ở vị trí các nốt đâu nhưng ta vẫn nghĩ nhiều đến thủy đậu bội nhiễm da vì nốt đậu đa số chứa dịch đục, mọc trên viền hồng ban 3mm đồng thời khi thăm khám thấy bệnh nhân có sốt cao mặc dù sang thương da đã xuất hiện được 4 ngày. Không nghĩ tới tình trạng sốt cao sau khi nhập viện là do nhiễm trùng bệnh viện vì bệnh nhân chỉ mới nhập viên được 24h. Ngoài ra, bệnh nhân than tiểu đau sau khi nhập viện, tuy thăm khám chưa phát hiện bất thường nhưng chưa thể loại trừ biến chứng hoặc một bệnh lí khác kèm theo, nên đề nghị tptnt để đánh giá lâm sàng không thấy các triệu chứng khác ở tim không âm thổi bất thường, không đau ngực không khó thở, phổi không ho, không khó thở, không rale , thần kinh bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, không thất điều, không co giật nên ít nghĩ còn bệnh nhân có biến chứng bệnh nhân này sang thương mọc rải rác khắp ngực, lưng, mặt, phân bố đều không có xư hướng mọc thành nhóm thành chùm, tiền căn chưa có những lần nổi mụn nước tương tự trước đây ngoài ra trên bề mặt da không có những vết loét trợt kèm xuất huyết nên ta ít nghĩa tới nguyên nhân do có sang thương đa dạng, tuy nhiên xu hướng là li tâm chứ không phải hướng tâm đồng thơi các bóng nước chắc, không cảm giác đau đồng thời trong khoảng thời gian gần đây bệnh nhân không sử dụng thuốc nên ta có thể loại trừ nguyên nhân do di ứng nhân có triêu chứng tiểu đau tuy nhiên nước tiểu vàng trong đồng thời thăm khám không thấy hội chứng kích thích bàng quang nên nghĩ nhiều nhiễm trùng tiểu gây hẹp niệu đạo, xuất hiện sau khi nhập viện nên nghĩ đến đây là biến chứng của thủy đậu, tuy nhiên chưa loại trừ đây là 1 bệnh lí kèm LÂM SÀNGCận lâm sàng đề nghịTổng phân tích tế bào máuTổng phân tích nước tiểuBUN, CreatinineCận lâm sàng hiện cóCông thức máuRBC 1012/LWBC 109/LHGB g/dLNEU %Hct %MCV fLBASO %MCH fLMONO %MCHC g/LLympho %PLT 147 109/L Tổng phân tích nước tiểupH 5Eryth 50Leu 25Cặn lắng Hồng cầu 2+Bạch cầu 1+BIỆN LUẬN CẬN LÂM SÀNGTổng phân tích nước tiểu thấy hồng cầu Nhiễm trùng tiểu nghĩ nhiều do nốt đậu mọc ở đường tiết niệu gây ra tình trạng tiểu máu vi thể, tuy nhiên để loại trừ 1 số bệnh lí khác à đề nghị làm thêm siêu ĐOÁN HIỆN TẠI Thuỷ đậu N5 bội nhiễm da/ Nhiễm trùng tiểuHƯỚNG ĐIỀU TRỊKháng sinh điều trị bội nhiễm, nhiễm trùng tiểuThuốc diệt virus AcyclovirBôi ngoài da chống nhiễm trùng Blue methylenĐiều trị triêu chứng kháng Histamin, hạ sốtTIÊN LƯỢNG – DỰ PHÒNGTiên lượng tốtBN sinh hiệu ổn nhưng cần tránh gãi các mụn nước gây nhiễm trùng, khả năng hồi phục tốtDự phòng Giáo dục tuyên truyền ý thức về bệnh thủy đậuCách ly bệnh nhân cho đến khi nốt đậu đóng màyTuân thủ điều trị, giữ vệ sinh da để phòng ngừa biến chứng khác Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa II Quách Nguyễn Thu Thủy - Phòng khám Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Trung tâm Nhi - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Bệnh thủy đậu rất phổ biến tiếng anh là chickenpox hay còn được gọi là trái rạ, phỏng dạ, thường xảy ra ở người lớn và cả trẻ em. Mặc dù không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng nếu không được điều trị kịp thời bệnh có nguy cơ biến chứng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người bệnh thậm chí dẫn đến tử vong. Bệnh thủy đậu là bệnh do Varicella zoster virus VZV thường sẽ xuất hiện 10 - 14 ngày sau khi người bệnh có sự tiếp xúc với nguồn bệnh. Varicella zoster virus VZV có đặc tính phát ban các đợt liên tiếp với những đặc điểm đi kèm như ngứa rát, nổi sẩn, mụn nước, mụn mủ, mụn nước có kích thước từ 1 - 3 mm đường kính, chứa dịch trong. Những trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn nếu bị nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ, vảy tiết mọc lên trên bề mặt da, để lâu sẽ thành sẹo, thường kèm với triệu chứng toàn thân nhẹ. Nhiễm trùng tiên phát ở tuổi trưởng thành có thể có biến chứng viêm phổi và viêm đậu có thời gian ủ bệnh từ 2 đến 3 tuần, thông thường là từ 14 - 16 chứngTiền triệu chứng các triệu chứng sơ khai sẽ nặng nhẹ tùy trường hợp, thường là nhức đầu, sổ mũi, đau mình ở trẻ em. Có nhiều người có triệu chứng nhẹ hoặc không có, các biểu hiện ở người lớn thường rõ đoạn toàn phát Sau 24 - 36h khi có tiền triệu chứng xuất hiện thì người bệnh sốt vừa phải và có triệu chứng phát tổn thương ban đầu thường mọc ở đầu và mặt, sau đó lan ra thân mình và các chi. Mọc nhiều ở vùng ít tì ép như vùng liên bả, bên sườn, nách, kheo, có khi dày đặc ở mặt và thân mình, ít hơn ở các chi. Riêng bàn chân và bàn tay hiếm khi ban ban đầu dạng vết chấm, nổi sẩn phù thường không quan sát thấy, sau này thành mụn nước trong vòng 24 - 48h, mụn nước sẽ như giọt nước, nông, có thành mỏng, có quầng viêm đỏ xung quanh, thường kèm theo các cơn ngứa vòng 8 - 12h, mụn nước chứa dịch màu vàng nhạt, trở nên lõm xuống và nhanh chóng trở thành mụn mủ màu trắng mịn, sau chuyển thành vảy tiết màu đỏ nâu. Vảy tiết rụng sau 1-3 tuần, lúc khỏi để lại vết hồng, một số có nền hơi lõm, có thể thành sẹo một thời gian dài hay sẹo vĩnh viễn. Hình ảnh bệnh thủy đậu 2. Bệnh thủy đậu có nguy hiểm không? Bệnh thủy đậu có nguy hiểm nếu như không được điều trị đúng phương pháp và kịp thời. Căn bệnh này có thể biến chứng nhanh chóng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh, cụ thểThủy đậu biến chứng viêm da do bội nhiễm vi khuẩn thì nốt thủy đậu có mưng mủ, khi khỏi thường để lại sẹo, đôi khi là sẹo rất sâu, khó hồi phục, dễ nhầm với nốt đậu mùa. Nếu người bệnh bị suy dinh dưỡng nặng, nốt thủy đậu có thể có hoại tử. Bội nhiễm tụ cầu và liên cầu, chốc, nhọt, viêm mô tế bào và hoại tử. , nặng hơn vi trùng có thể xâm nhập từ mụn nước vào máu gây nhiễm trùng đậu biến chứng là có thể gây viêm tai tai ngoài, tai giữa, viêm thanh quản, viêm phổi. Một số trường hợp nặng có thể gây viêm thận cấp tiểu ra máu. Các biến chứng nặng như viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não... là các biến chứng có thể nguy hiểm đến tính mạng, hay để lại di chứng sau này, xảy ra phổ biến ở trẻ sơ sinh, người lớn và ở những người có hệ miễn dịch đậu biến chứng nặng nhất là gây nên viêm não – màng não hết sức nguy hiểm, có thể tử vong nếu để muộn và cấp cứu không kịp nữ mang thai nếu mắc bệnh thủy đậu sẽ rất nguy hiểm vì sẽ dễ bị biến chứng nặng, đặc biệt là viêm phổi. Khi phụ nữ mang thai bị thủy đậu ở 3 tháng đầu của thai kỳ, virus sẽ gây sẩy thai, hay khi sinh ra trẻ sẽ bị thủy đậu bẩm sinh với nhiều dị tật như đầu nhỏ, co gồng tay chân, bại não, nhẹ cân, chậm phát triển... Còn nếu bị trong những ngày sắp sinh hay sau sinh trẻ sẽ bị lây bệnh rất nặng với mụn nước nổi nhiều và dễ bị biến chứng viêm phổi, viêm đường hô hấp...Ngoài ra, biến chứng thủy đậu người lớn hoặc trẻ nhỏ đều có thể thấy viêm phổi nặng do virus, viêm thận cấp tính liên cầu khuẩn, nhiễm khuẩn huyết liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, ban xuất huyết giảm tiểu biệt, thậm chí sau khi bệnh nhân đã khỏi bệnh, siêu vi thủy đậu vẫn còn tồn tại trong các hạch thần kinh dưới dạng bất hoạt ngủ đông. Nhiều năm sau đó, có thể là 10, 20 hay 30 năm sau, khi có điều kiện thuận tiện như sức đề kháng cơ thể kém hay có yếu tố gì khác, thì siêu vi này sẽ tái hoạt động trở lại và gây ra bệnh Zona thần kinh, có người còn gọi là giời leo. 3. Tiêm phòng vắc-xin ngừa thủy đậu ở đâu tốt? Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec triển khai dịch vụ tiêm vắc-xin thuỷ đậu Varivax 0,5ml của MSD Mỹ. Tác dụng của vắc xin này là cơ thể khi được tiêm vắc-xin Varivax có nghĩa là tiêm virus thuỷ đậu đã làm giảm động lực, lúc đó cơ thể sẽ nhận diện được các yếu tố lạ và hình thành kháng thể đồng thời hệ miễn dịch sẽ chủ động cho cơ thể chống lại yếu tố lạ hay là yếu tố gây sẽ được các bác sĩ chuyên khoa nhi – vắc-xin thăm khám, sàng lọc đầy đủ các vấn đề về thể trạng và sức khỏe, tư vấn về vắc - xin phòng bệnh và phác đồ tiêm, cách theo dõi và chăm sóc trẻ sau tiêm chủng trước khi ra chỉ định tiêm vắc-xin theo khuyến cáo mới nhất của Bộ Y tế & Tổ chức Y tế thế giới nhằm đảm bảo hiệu quả tốt và an toàn nhất cho ngũ bác sĩ và điều dưỡng nhi giàu kinh nghiệm, chuyên nghiệp, hiểu tâm lý trẻ và áp dụng cách giảm đau hiệu quả cho trẻ trong quá trình tiêm trẻ tiêm chủng được theo dõi 30 phút sau tiêm và đánh giá lại sức khỏe trước khi ra theo dõi đa khoa trước, trong và sau tiêm chủng tại Hệ thống y tế Vinmec và luôn có ekip cấp cứu sẵn sàng phối hợp với phòng tiêm chủng xử trí các trường hợp sốc phản vệ, suy hô hấp – ngừng tuần hoàn, đảm bảo xử lý kịp thời, đúng phác đồ khi có sự cố xảy tiêm chủng thoáng mát, có khu chơi, giúp trẻ có cảm giác thoải mái như đang dạo chơi và có tâm lý tốt trước và sau khi tiêm xin được nhập khẩu và bảo quản tại hệ thống kho lạnh hiện đại, với dây chuyền bảo quản lạnh Cold chain đạt tiêu chuẩn GSP, giữ vắc-xin trong điều kiện tốt để đảm bảo chất mẹ sẽ nhận tin nhắn nhắc lịch trước ngày tiêm và thông tin tiêm chủng của bé sẽ được đồng bộ với hệ thống thông tin tiêm chủng Quốc gia. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Các loại vắc-xin cho trẻ đang có mặt ở Vinmec XEM THÊM Bệnh thủy đậu Nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng và cách điều trị Lưu ý khi dùng thuốc bôi thủy đậu Acyclovir Thủy đậu ở người lớn dễ biến chứng

cách làm bệnh án thủy đậu